Bài này thuộc trục Định lượng trực quan: nhìn thị trường Việt Nam bằng số liệu thật, ghi rõ kỳ đo và nguồn (Tâm An Stock). Bài mô tả phép đo và cách đọc đúng, không phải khuyến nghị đầu tư.
Câu trả lời ngắn
Trong khung 1 năm (250 phiên, từ 13/10/2025 đến 14/10/2026), 9 trong 10 công ty chứng khoán có vốn hoá lớn nhất của dữ liệu Tâm An Stock đo được beta so với VN-Index, từ 0,66 (VCK) đến 1,44 (VIX). Công ty thứ mười, LPS, niêm yết từ 18/08/2026 nên mới có 38 lợi suất ngày, thấp hơn mức tối thiểu 120, vì vậy chưa có beta. Con số cần đọc kèm ba lưu ý: R² chỉ từ 0,15 (VCK) đến 0,45 (SSI), tức VN-Index giải thích một phần khá nhỏ biến động của từng mã; sai số chuẩn của beta là 0,08 đến 0,12, nên chênh lệch dưới khoảng 0,06 giữa hai mã chưa đủ để nói hai mã khác nhau; và đổi khung đo từ 1 năm sang 2 năm làm beta đổi theo ở cả 6 mã có đủ lịch sử.
Bài chỉ mô tả số đo, không xếp mã nào tốt hay xấu, không định giá và không khuyến nghị. Số liệu đến 14/10/2026, nguồn Tâm An Stock. Khái niệm beta và cách đo được giải thích ở bài Cổ phiếu beta cao thực chất là gì?; bài này tập trung vào cách đọc một bảng beta nhiều mã.
Thanh xanh: đủ 250 phiên; thanh tím: mới niêm yết, ít phiên hơn; vạch nét đứt là β = 1.
Cách chọn mã và cách đo
Mười mã là 10 công ty chứng khoán có vốn hoá lớn nhất trong nhóm công ty chứng khoán của dữ liệu site, xếp theo vốn hoá ngày 15/10/2026 (số liệu vốn hoá lấy từ dữ liệu site, bài không tính lại). Vốn hoá thay đổi hằng ngày nên thứ tự này chỉ đúng tại ngày nêu.
Phương pháp giống công cụ Tra cứu beta: lợi suất đơn giản theo ngày (%) của giá đóng cửa điều chỉnh; beta là độ dốc hồi quy của lợi suất mã theo lợi suất VN-Index (Cov/Var); R² là phần biến động của mã mà VN-Index giải thích; khung 1 năm là 250 phiên cuối đến 14/10/2026. Một mã chỉ được công bố beta khi có ít nhất 120 lợi suất ngày trong khung 1 năm. Mỗi mã được tính lại bằng ba cách độc lập và đối chiếu với một nguồn giá nội bộ khác, lệch beta lớn nhất khoảng 0,002.
Bảng số liệu khung 1 năm
Xếp theo vốn hoá giảm dần. Khoảng 95% bằng beta ± 1,96 × sai số chuẩn.
| Thứ tự | Mã | Vốn hoá (tỷ đồng) | Số phiên | Beta | R² | Sai số chuẩn | Khoảng 95% |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | TCX | 75.049 | 243 | 0,97 | 0,27 | 0,10 | 0,77 – 1,17 |
| 2 | VCK | 64.525 | 203 | 0,66 | 0,15 | 0,11 | 0,44 – 0,88 |
| 3 | SSI | 57.025 | 250 | 1,16 | 0,45 | 0,08 | 1,00 – 1,32 |
| 4 | VPX | 43.125 | 206 | 0,82 | 0,23 | 0,11 | 0,61 – 1,03 |
| 5 | LPS | 36.907 | 38 | chưa đủ dữ liệu | |||
| 6 | HCM | 31.251 | 250 | 0,93 | 0,30 | 0,09 | 0,75 – 1,11 |
| 7 | VIX | 29.973 | 250 | 1,44 | 0,37 | 0,12 | 1,21 – 1,67 |
| 8 | VCI | 21.374 | 250 | 1,01 | 0,30 | 0,10 | 0,82 – 1,20 |
| 9 | VND | 20.094 | 250 | 1,10 | 0,34 | 0,10 | 0,91 – 1,30 |
| 10 | MBS | 14.714 | 250 | 1,12 | 0,35 | 0,10 | 0,93 – 1,31 |
Ba mã TCX, VCK, VPX có 243, 203 và 206 lợi suất, ít hơn 250 vì mới niêm yết: TCX từ 21/10/2025, VPX từ 11/12/2025, VCK từ 16/12/2025. Chuỗi của ba mã này bắt đầu sau ngày đầu của khung. LPS niêm yết từ 18/08/2026 chỉ có 38 lợi suất, nên không có beta; bài không nội suy và không dùng khung ngắn hơn để thay thế.
Cách đọc đúng bảng này
1. Beta không phải độ biến động tổng. Beta chỉ đo phần biến động đi cùng VN-Index. Bảng độ lệch chuẩn lợi suất ngày trong cùng khung (Tâm An tự tính từ các điểm số liệu) cho thấy điều đó: VCK có beta 0,66 nhưng độ lệch chuẩn lợi suất ngày 2,14%, gần bằng SSI (beta 1,16, độ lệch chuẩn 2,22%); TCX có beta 0,97 nhưng độ lệch chuẩn 2,30%, cao hơn SSI; VIX có beta 1,44 và độ lệch chuẩn 3,03%. Một mã beta thấp vẫn có thể dao động mạnh vì phần lớn biến động của nó không đi cùng VN-Index. Các độ lệch chuẩn này tính trên chuỗi của từng mã, nên với mã mới niêm yết, độ dài chuỗi ngắn hơn.
2. R² thấp nghĩa là beta chỉ là xu hướng trung bình. R² từ 0,15 đến 0,45 nghĩa là VN-Index giải thích từ 15% đến 45% biến thiên lợi suất ngày của mỗi mã. Với VCK (0,15), đám chấm tản rất rộng quanh đường hồi quy; với SSI (0,45), đám chấm sát đường hơn. Cùng một beta, mã có R² thấp là bức tranh kém "gọn" hơn.
3. Sai số chuẩn quyết định khi nào hai beta "khác nhau". Sai số chuẩn của beta ở bảng là 0,08 đến 0,12, nên khoảng 95% rộng khoảng ±0,16 đến ±0,23. SSI (1,16), MBS (1,12) và VND (1,10) chênh nhau dưới 0,06, trong khi khoảng 95% của cả ba gần như chồng khít lên nhau (từ khoảng 0,91 đến 1,32). Với số liệu này, bài không thể nói ba mã có beta khác nhau, và thứ tự giữa chúng chưa có ý nghĩa thống kê. Tương tự, VCI (1,01), TCX (0,97) và HCM (0,93) chênh nhau 0,04 giữa hai mã liền kề, nhỏ hơn nhiều so với sai số.
SSI, MBS và VND tô màu cam: chênh nhau dưới 0,06, khoảng 95% chồng lên nhau gần hết.
4. Mã mới niêm yết không cùng cơ sở với mã đủ 250 phiên. Số phiên 243, 206 và 203 vẫn đủ để công bố theo quy tắc (từ 120), nhưng đó là chuỗi ngắn hơn, bắt đầu muộn hơn. So trực tiếp beta của các mã này với beta của mã đủ 250 phiên là so hai khoảng thời gian khác nhau.
5. Khung đo đổi thì beta đổi. Với 6 mã có đủ lịch sử cho khung 2 năm (500 phiên, từ 10/10/2024 đến 14/10/2026), beta khung 2 năm đều cao hơn khung 1 năm:
| Mã | Beta 1 năm | Beta 2 năm | Chênh | R² 2 năm |
|---|---|---|---|---|
| SSI | 1,16 | 1,24 | +0,09 | 0,51 |
| HCM | 0,93 | 1,12 | +0,19 | 0,42 |
| VIX | 1,44 | 1,49 | +0,05 | 0,39 |
| VCI | 1,01 | 1,16 | +0,16 | 0,41 |
| VND | 1,10 | 1,28 | +0,18 | 0,40 |
| MBS | 1,12 | 1,39 | +0,26 | 0,45 |
Chênh từ 0,05 đến 0,26, và thứ tự giữa các mã cũng đổi: ở khung 1 năm SSI đứng thứ hai trong sáu mã này, ở khung 2 năm SSI đứng thứ tư; MBS từ thứ ba lên thứ hai. TCX, VCK, VPX và LPS không có đủ 500 phiên nên không trình bày khung 2 năm. TCX có 243 phiên nên bài không gọi đó là số liệu 2 năm.
Đổi khung đo, beta và thứ tự đổi theo. Số thật đến 14/10/2026.
Cách đọc đúng: tóm tắt bằng danh sách kiểm
- Mỗi số beta đi kèm kỳ đo, khung đo và số phiên: "beta 1,16 của SSI" chỉ có nghĩa khi nói rõ "khung 1 năm, 250 phiên đến 14/10/2026".
- Nhìn R² và sai số chuẩn trước khi so hai mã; chênh nhỏ hơn sai số thì coi là chưa khác nhau.
- Không đọc beta như độ biến động tổng; muốn mô tả độ dao động, dùng thêm độ lệch chuẩn hoặc các thước đo khác.
- Với mã mới niêm yết, nêu rõ số phiên; với mã chưa đủ dữ liệu, ghi "chưa đủ dữ liệu" thay vì điền một con số.
- Thử ít nhất hai khung đo (1 năm và 2 năm) để thấy mức nhạy của kết quả.
Giới hạn và đừng nói quá
- Beta là phép đo quá khứ, đổi theo mã, theo kỳ và theo khung; không dự báo và không phải khuyến nghị.
- Mười mã được chọn theo vốn hoá tại một ngày (15/10/2026); đây không phải danh sách khuyến nghị và cũng không phải toàn bộ ngành chứng khoán.
- Đọc "mã nào có beta cao nhất" như một sự kiện của kỳ đo này, không phải một đặc tính cố định. Bài không xếp tốt hay xấu và không đưa ra thứ tự ưu tiên.
- Không suy ra nguyên nhân của chênh lệch beta giữa các mã (cơ cấu hoạt động, đòn bẩy, thanh khoản...) từ bảng này: bài chỉ mô tả số đo, chưa kiểm các nguyên nhân đó.
- Giá điều chỉnh, VN-Index là chỉ số giá không điều chỉnh cổ tức, và lợi suất từng phiên có đuôi dày; mọi con số có sai số.
- Nội dung giáo dục, không phải khuyến nghị mua, bán hay nắm giữ; quá khứ không đảm bảo tương lai.
Xem video
Video cùng nội dung trên kênh YouTube của Tâm An: Xem video trên YouTube. Video đặt 10 mã cạnh nhau theo vốn hoá, hiển thị LPS mờ với nhãn "chưa đủ dữ liệu" và ghi chú các mã mới niêm yết có ít phiên hơn.
Tra cứu beta từng mã
Công cụ Tra cứu beta (đường dẫn ngắn /beta) cho xem beta, R² và sai số chuẩn của 100 mã VN100 ở ba khung 1, 2 và 3 năm, dữ liệu tính đến 14/10/2026. Không phải mã nào trong bài này cũng nằm trong VN100, nên công cụ không thay thế bảng trên cho cả 10 mã.
Căn cứ và số liệu
Số liệu đến 14/10/2026. Nguồn: Tâm An Stock.
- Beta, R², sai số chuẩn, số phiên: tính trên lợi suất đơn giản theo ngày của giá đóng cửa điều chỉnh so với VN-Index, khung 1 năm (250 phiên từ 13/10/2025 đến 14/10/2026) và 2 năm (500 phiên từ 10/10/2024 đến 14/10/2026). Mỗi mã tính ba cách độc lập và đối chiếu một nguồn nội bộ khác.
- Vốn hoá và thứ tự: dữ liệu site ngày 15/10/2026, không tính lại.
- Độ lệch chuẩn lợi suất ngày và khoảng 95% do Tâm An tự tính từ các điểm số liệu trên.
- Ngày niêm yết của TCX, VCK, VPX, LPS: theo dữ liệu site.
Đọc thêm
- Hub: Định lượng trực quan.
- Cổ phiếu beta cao thực chất là gì?
- Công cụ Tra cứu beta.
- Để thấy beta không nói gì về chất lượng báo cáo tài chính: Chất lượng lợi nhuận là gì?
Beta của 10 công ty chứng khoán lớn nhất theo vốn hoá (khung 1 năm đến 14/10/2026, nguồn Tâm An Stock) từ 0,66 đến 1,44 ở 9 mã đủ dữ liệu, LPS chưa đủ dữ liệu; khi đọc cần xét R² (0,15 đến 0,45), sai số chuẩn (0,08 đến 0,12), số phiên của mã mới niêm yết và khung đo. Chênh nhỏ hơn sai số chưa phải khác biệt, beta không phải độ biến động tổng. Bài chỉ mô tả số đo, không xếp tốt hay xấu và không phải khuyến nghị.
Nội dung mang tính giáo dục, không phải khuyến nghị mua, bán hay nắm giữ, không định giá và không dự báo. Số liệu là phép đo trên dữ liệu quá khứ, đổi theo mã, kỳ và khung đo; quá khứ không đảm bảo tương lai.

