Mô hình sàng lọc báo cáo tài chính (M-Score, Z-Score, F-Score...) là gì, dùng để làm gì và KHÔNG dùng để làm gì?

2026· Tác giả Bùi Văn Cường
KHOÁ HỌC ĐỌC BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Đọc báo cáo tài chính — chất lượng lợi nhuận: sơ đồ minh hoạ — Tâm An School

Bài này thuộc hub Đọc báo cáo tài chính — loạt kiến thức đọc báo cáo tài chính nâng cao, không gắn mã cổ phiếu. Tín hiệu trong báo cáo chỉ để sàng lọc, không phải kết luận về một doanh nghiệp cụ thể.

Câu trả lời ngắn

Mô hình sàng lọc báo cáo tài chính là một công thức lấy một nhóm chỉ số từ báo cáo tài chính, gộp thành một điểm (hoặc một xác suất) để xếp thứ tự: doanh nghiệp nào, dòng nào nên đọc kỹ trước. Nó dùng để thu hẹp danh sách cần xem, không dùng để kết luận. Các tên hay gặp đo việc khác nhau: M-Score (Beneish) hướng tới khả năng lợi nhuận bị tô điểm, Z-Score (Altman) hướng tới nguy cơ khó khăn tài chính, còn F-Score là tên chung của hai mô hình khác nhau: điểm từ 0 đến 9 về sức khoẻ tài chính (Piotroski) và chỉ số về khả năng báo cáo sai lệch trọng yếu (Dechow cùng cộng sự). Điểm cao là tín hiệu cần xem thêm, không phải bằng chứng gian lận hay phá sản.

Ba mô hình sàng lọc, bốn câu hỏi khác nhau: M-Score, Z-Score và hai loại F-Score

Sơ đồ minh hoạ khái niệm, không phải số liệu thật.

Mô hình sàng lọc là gì: máy dò, không phải phiên toà

Mỗi doanh nghiệp niêm yết có hàng chục chỉ tiêu trên ba báo cáo, và người đọc không đủ thời gian đọc kỹ tất cả. Mô hình sàng lọc chọn trước vài chỉ số mà nghiên cứu cho là liên quan đến một câu hỏi cụ thể, gán cho mỗi chỉ số một hệ số bằng cách đối chiếu với một mẫu doanh nghiệp trong quá khứ, rồi cộng lại thành một điểm. Điểm không nói "vì sao"; nó chỉ cho biết báo cáo này trông giống nhóm nào trong mẫu.

Hãy hình dung chiếc máy dò kim loại ở cửa sân bay: nó kêu khi có kim loại, và thắt lưng hay chìa khoá cũng làm nó kêu. Tiếng kêu quyết định ai được kiểm tra kỹ hơn, không quyết định ai có vấn đề. Điểm cao cũng vậy: báo cáo được đọc kỹ hơn, còn nguyên nhân phải tìm trong thuyết minh, báo cáo kiểm toán và bối cảnh kinh doanh. Vì sao điểm cao vẫn thường có lời giải thích bình thường là chủ đề bài riêng (xem Đọc thêm).

Bốn tên gọi, bốn câu hỏi khác nhau

Tên Câu hỏi hướng tới Đầu vào chính Đầu ra
M-Score (Beneish, 1999) Lợi nhuận có dấu hiệu bị tô điểm không? Tám chỉ số, so hai năm liền Một điểm
Z-Score (Altman, 2000 tổng kết) Có nguy cơ khó khăn tài chính không? Bốn hoặc năm tỷ số trên tài sản hoặc nợ Một điểm, chia vùng
F-Score (Piotroski, 2000) Mạnh hay yếu về tài chính? Chín tiêu chí đạt hoặc không Điểm 0 đến 9
F-score (Dechow và cộng sự, 2011) Giống nhóm báo cáo từng bị xác định là sai lệch trọng yếu? Bảy nhóm biến Xác suất chia cho xác suất nền

M-Score. Beneish (1999) xây một mô hình xác suất từ tám chỉ số tài chính, so năm hiện tại với năm trước, để nhận ra dấu hiệu của việc “thao túng lợi nhuận”. Theo tóm tắt bài (Tâm An chỉ đọc phần tóm tắt), trong mẫu nghiên cứu mô hình xác định được khoảng một nửa số doanh nghiệp “thao túng” trước khi bị phát hiện, và doanh nghiệp bị gắn cờ cần được kiểm tra xem là do “thao túng” hay do nguyên nhân cấu trúc khác. Gắn cờ chưa trả lời câu hỏi nguyên nhân; từng chỉ số nằm ở bài riêng.

Z-Score. Altman dựng Z-Score từ năm 1968; bài tổng kết năm 2000 trình bày ba bản. Bản gốc dùng năm tỷ số, có giá thị trường của vốn chủ sở hữu. Bản Z' dùng giá trị sổ sách. Bản Z'' chỉ còn bốn tỷ số, không có biến doanh thu trên tổng tài sản. Mỗi bản có hệ số và cách đọc điểm theo vùng riêng, nên bài này không đưa số cụ thể; xem bài riêng về Z-Score.

Hai chữ F. Cùng gọi “F-Score” nhưng là hai thứ khác nhau, nên khi thấy cụm này hãy hỏi “của ai”:

  • Piotroski (2000): chín tiêu chí, đạt thì được một điểm: bốn về lợi nhuận (lãi trên tài sản dương, dòng tiền kinh doanh dương, lãi trên tài sản tăng, dòng tiền lớn hơn lãi), ba về nợ, thanh khoản và phát hành vốn, hai về hiệu quả hoạt động. Điểm 8 đến 9 là cao, 0 đến 1 là thấp. Mẫu gốc là nhóm cổ phiếu có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá thị trường cao, 1976 đến 1996; mục đích là phân biệt mạnh với yếu trong nhóm đó, không phải đo gian lận.
  • Dechow, Ge, Larson, Sloan (2011): F bằng xác suất sai lệch trọng yếu mà mô hình tính được, chia cho xác suất nền trong mẫu; F bằng 1 là ngang mức nền, trên 1 là cao hơn. Mô hình thứ nhất dùng bảy nhóm biến: dồn tích, thay đổi phải thu, thay đổi tồn kho, tỷ trọng “tài sản mềm”, thay đổi doanh thu thu tiền mặt, thay đổi lãi trên tài sản và phát hành vốn.

Ngoài ra còn các chỉ báo đơn lẻ như dồn tích của Sloan (1996), đo phần lãi không đi kèm tiền.

Ví dụ minh hoạ: công ty X giả định, xếp thứ tự dòng cần đọc

Ví dụ này không áp công thức của mô hình nào, chỉ minh hoạ logic sàng lọc: so nhiều dòng với một mốc rồi xếp thứ tự đọc. Công ty X là giả định, đơn vị tỷ đồng, số liệu tự đặt, không phải số liệu thật.

Chỉ tiêu Năm trước Năm nay Thay đổi
Doanh thu thuần 1.600 2.080 +30,0%
Giá vốn 1.200 1.560 +30,0%
Lợi nhuận sau thuế 120 150 +25,0%
Hàng tồn kho 150 210 +40,0%
Phải thu khách hàng 200 390 +95,0%
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh 110 45 -59,1%

Lấy mức tăng doanh thu (30,0%) làm mốc và xếp các dòng theo độ lệch so với mốc: dòng tiền kinh doanh lệch 89,1 điểm phần trăm, phải thu 65,0, tồn kho 10,0, lợi nhuận sau thuế 5,0, giá vốn 0,0. Thứ tự này không có ngưỡng nào: nó chỉ cho biết nên mở dòng nào trước.

Công ty X giả định: độ lệch của từng dòng so với mức tăng doanh thu 30,0%

Số liệu giả định, kiểm tính lại bằng Python.

Giờ mở thuyết minh. Giả sử thuyết minh cho biết: trong số phải thu 390 có 150 của một khách hàng mới ký hợp đồng trong năm, thời hạn thanh toán 90 ngày, chưa đến hạn. Bỏ khoản này, phải thu còn 240, tăng 20,0% so với 200, thấp hơn mức tăng doanh thu. Dòng tiền cũng có lời giải: lợi nhuận sau thuế 150, cộng khấu hao 40, trừ phải thu tăng 190, trừ tồn kho tăng 60, cộng phải trả nhà cung cấp tăng 105, ra 45. Như vậy hai “cờ” phải thu và dòng tiền phần lớn là cùng một câu chuyện, không nên đếm thành hai bằng chứng độc lập.

Vẫn còn câu hỏi mở: khoản 150 đã thu được sau ngày kết thúc năm chưa; tồn kho tăng 40,0% có đi kèm đơn hàng không; hợp đồng mới có thoả điều kiện ghi nhận doanh thu không. Đó là việc cần theo dõi ở kỳ sau, chưa phải kết luận về công ty X, và còn nhiều nguyên nhân kinh doanh hợp lý khác. Tính lại bằng Python: 1.600 lên 2.080 là +30,0%; 200 lên 390 là +95,0%; 110 xuống 45 là -59,1%; 150 + 40 - 190 - 60 + 105 = 45.

Mô hình sàng lọc dùng để làm gì

  • Thu hẹp danh sách. Từ hàng trăm báo cáo xuống số ít cần đọc kỹ, theo một thước đo giữ nguyên cách tính.
  • Chỉ đúng chỗ cần hỏi. Điểm là tổng của nhiều chỉ số. Tách điểm thành từng chỉ số cho biết dòng nào kéo điểm lên, như ví dụ ở trên.
  • Có ngôn ngữ chung. Gọi đúng tên chỉ số giúp trao đổi rõ hơn là nói chung chung “báo cáo có vẻ lạ”.

Mô hình sàng lọc KHÔNG dùng để làm gì

  1. Không kết luận gian lận hay phá sản. Điểm là vị trí trong một mẫu nghiên cứu, không phải bằng chứng về điều đã xảy ra ở một doanh nghiệp.
  2. Không coi ngưỡng nước ngoài là vạch phân loại ở Việt Nam. Hệ số và ngưỡng được hiệu chuẩn trên mẫu cụ thể: 1976 đến 1996 (Piotroski), 1982 đến 2005 (Dechow cùng cộng sự). Một nghiên cứu về doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam (Hoang Hung Dau, 2025) kết luận các mô hình cổ điển cần hiệu chỉnh theo bối cảnh và nên kết hợp chỉ báo định tính.
  3. Không áp cho mọi ngành. Ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán có cấu trúc báo cáo khác; bất động sản và xây dựng ghi nhận doanh thu theo bàn giao hoặc tiến độ nên nhiều chỉ số bị méo. Bài riêng trong chuyên mục nói kỹ phần này.
  4. Không trộn các điểm với nhau. Trong mẫu 150 quan sát giai đoạn 2019 đến 2023, nghiên cứu trên không thấy tương quan có ý nghĩa thống kê giữa M-Score và Z-Score (r khoảng -0,02) và nhận xét hai mô hình đo hai khía cạnh khác nhau. Đó là kết quả của một mẫu, không khái quát cho thị trường.
  5. Không dùng khi hai kỳ không so sánh được. Mua bán sáp nhập, hợp nhất công ty con mới, đổi chính sách kế toán, tăng trưởng rất nhanh hay mùa vụ (khi dùng số quý) đều làm điểm lệch mà không liên quan đến chất lượng báo cáo.
  6. Không làm căn cứ mua bán hay xếp hạng doanh nghiệp. Nội dung này không phải khuyến nghị đầu tư.

Dùng để làm gì và không dùng để làm gì: sáu giới hạn của mô hình sàng lọc

Sơ đồ minh hoạ khái niệm.

Cách đọc trên báo cáo một điểm sàng lọc

  1. Hỏi “điểm của ai”: M-Score, Z-Score, F-Score của Piotroski hay của Dechow; bản nào, số năm hay số quý.
  2. Tách điểm thành từng chỉ số và xem chỉ số nào kéo lệch nhiều nhất, như bước xếp thứ tự ở công ty X.
  3. Mở thuyết minh của đúng dòng đó: phải thu theo khách hàng và tuổi nợ, tồn kho theo loại, phạm vi hợp nhất, chính sách kế toán.
  4. Nghĩ đến nguyên nhân kinh doanh khác trước: tăng trưởng nhanh, hợp đồng dài hạn, mua bán sáp nhập, mùa vụ.
  5. Ghi câu hỏi chưa có lời đáp và quay lại ở kỳ sau, thay vì chốt một nhận định.

Áp dụng cho từng mã. Khi có báo cáo tài chính thật, trục phân tích theo mã của Tâm An dùng kiến thức này để chỉ ra dòng nào đang kéo một chỉ số lệch khỏi mức thường gặp, nên đọc thuyết minh nào, và không biến điểm thành xếp loại tốt hay xấu.

Lưu ý chuyển kỳ: báo cáo năm 2025 lập theo Thông tư 200, từ năm tài chính bắt đầu 01/01/2026 theo Thông tư 99/2025 với mã số chỉ tiêu đánh lại; khi tự dựng chỉ số qua hai thời kỳ, bài không ghép theo mã số mà phải đối chiếu từng dòng.

Điểm cần cẩn trọng

  • Bài Beneish (1999) chỉ được đọc phần tóm tắt, nên bài này không nêu hệ số hay ngưỡng của M-Score; mô tả “khoảng một nửa” là theo tóm tắt, trong mẫu nghiên cứu, không phải kết quả ở Việt Nam. Bài Altman (2000) đọc từ bản sao toàn văn, và bài cũng không nêu hệ số hay vùng điểm của Z-Score.
  • Công ty X, các con số và cách xếp theo độ lệch là giả định do Tâm An tự đặt để minh hoạ, không phải mô hình đã kiểm định.
  • Nghiên cứu ở Việt Nam đã nêu là mẫu cụ thể, không dùng để kết luận cho toàn thị trường.

Đừng nói quá

  • Không viết “điểm cao nghĩa là doanh nghiệp gian lận” hay “điểm thấp nghĩa là báo cáo đáng tin”: điểm thấp cũng không chứng minh được điều gì.
  • Không viết “mô hình dự báo chính xác”: bài không có căn cứ nêu độ chính xác ở Việt Nam.
  • Không so điểm của các mô hình khác nhau như cùng một thang đo, và không gọi “F-Score” mà không nói của ai.
  • Không dùng bài này để kết luận về một cổ phiếu. Bài không phải khuyến nghị đầu tư.

Tín hiệu không phải kết luận

Điểm của một mô hình sàng lọc là tín hiệu để mở đúng dòng, đúng thuyết minh và đọc kỹ hơn, chưa phải bằng chứng về điều gì cụ thể của doanh nghiệp. Điểm cao có thể do tăng trưởng nhanh, hợp đồng mới, sáp nhập hay đặc thù ngành; điểm thấp cũng chưa phải kết luận rằng báo cáo đáng tin.

Căn cứ

Căn cứ kiểm ngày 14/10/2026.

  • Beneish (1999), Financial Analysts Journal 55(5): 24-36: chỉ đọc phần tóm tắt.
  • Dechow và cộng sự (2011), Contemporary Accounting Research 28(1): 17-82; Piotroski (2000), Journal of Accounting Research 38 (Supplement): 1-41; Sloan (1996), The Accounting Review 71(3): 289-315: đã đọc bài gốc, chỉ diễn giải.
  • Altman (2000), “Predicting financial distress of companies: revisiting the Z-score and ZETA models”: bản sao toàn văn.
  • Hoang Hung Dau (2025), AISC Proceedings vol. 7; Bùi Phương Chi và cộng sự (2021), VNU Journal of Science: Economics and Business 37(1): 40-49: chỉ diễn giải.
  • Thông tư 99/2025/TT-BTC, Điều 31 khoản 1, đọc từ Công báo.
  • Số liệu ví dụ: Tâm An tự đặt, tự tính lại bằng Python.

Đọc thêm

Cả chuỗi: chuyên mục Đọc báo cáo tài chính.

Mô hình sàng lọc báo cáo tài chính biến nhiều chỉ số thành một điểm để xếp thứ tự dòng cần đọc: M-Score hướng tới khả năng lợi nhuận bị tô điểm, Z-Score hướng tới nguy cơ khó khăn tài chính, còn F-Score là tên chung của hai mô hình khác nhau, điểm 0 đến 9 của Piotroski và chỉ số của Dechow cùng cộng sự. Với công ty X giả định (tỷ đồng), doanh thu tăng 30,0% còn phải thu tăng 95,0% và dòng tiền kinh doanh giảm 59,1%; xếp theo độ lệch thì dòng tiền và phải thu đáng mở trước, và nếu thuyết minh cho thấy 150 là khoản của khách mới thì hai cờ phần lớn là một câu chuyện, còn câu hỏi về việc thu tiền thì vẫn mở. Điểm không dùng để kết luận, không áp ngưỡng nước ngoài như vạch phân loại, không áp cho mọi ngành và không trộn điểm của các mô hình. Điểm cao là tín hiệu để đọc thêm, chưa phải bằng chứng, và không phải khuyến nghị đầu tư.

Nội dung mang tính giáo dục, không phải tư vấn đầu tư. Tín hiệu và mô hình chỉ để sàng lọc, không phải kết luận. Căn cứ pháp lý có thể thay đổi; luôn đối chiếu văn bản hiện hành.

Mã QR tham gia nhóm Zalo Chứng khoán Tâm An

Cộng đồng Zalo

Tham gia nhóm Chứng khoán Tâm An

Cùng thảo luận tín hiệu, cập nhật chiến lược theo tháng và học Price Action mỗi ngày.

Góc nhìn Price Action · Trong 5 phút

Add Zalo Admin, nhắn ngay mã cổ phiếu bạn quan tâm — nhận góc nhìn Price Action trong 5 phút

Diễn biến giá thay đổi theo từng phiên, không có sẵn trong bài viết tĩnh. Add Zalo của Admin và nhắn ngay mã cổ phiếu bạn quan tâm, Admin sẽ gửi lại góc nhìn Hành động giá (Price Action) cho mã đó trong vòng 5 phút.

Bùi Văn Cường
Nhà phân tích kỹ thuật — xem thêm

Bài phân tích liên quan

Bài viết mới nhất

Khoá Đào Tạo và Dịch VụVào room Zalo cộng đồng