Bài này thuộc hub Đọc báo cáo tài chính — loạt kiến thức đọc báo cáo tài chính nâng cao, không gắn mã cổ phiếu. Tín hiệu trong báo cáo chỉ để sàng lọc, không phải kết luận về một doanh nghiệp cụ thể.
Câu trả lời ngắn
Theo Thông tư 96/2020/TT-BTC, Điều 14 khoản 4, tổ chức niêm yết cổ phiếu và công ty đại chúng quy mô lớn phải giải trình nguyên nhân, đồng thời với việc công bố báo cáo tài chính, khi xảy ra một trong ba trường hợp. Một: lợi nhuận sau thuế của kỳ báo cáo thay đổi từ 10% trở lên so với cùng kỳ năm trước. Hai: lợi nhuận sau thuế bị lỗ, hoặc chuyển từ lãi sang lỗ hay ngược lại so với cùng kỳ năm trước. Ba: lợi nhuận sau thuế chênh lệch từ 5% trở lên giữa số trước và số sau kiểm toán hoặc soát xét, hoặc chuyển từ lỗ sang lãi hay ngược lại. Hai ngưỡng đo hai thứ khác nhau: 10% so hai kỳ của hai năm, 5% so hai phiên bản của cùng một kỳ. Chạm ngưỡng chỉ nghĩa là phải giải trình, chưa nói kết quả tốt hay xấu. Văn bản không ghi cách chia phần trăm; bài dùng công ty X giả định để cho thấy kết quả đổi theo cách chia.
Sơ đồ minh hoạ khái niệm, không phải số liệu thật.
Ai phải giải trình, và giải trình vào lúc nào
Điều 14 nằm trong chương dành cho tổ chức niêm yết cổ phiếu và công ty đại chúng quy mô lớn. Điều 3 khoản 1 định nghĩa công ty đại chúng quy mô lớn là công ty đại chúng có vốn góp của chủ sở hữu từ 120 tỷ đồng trở lên tại báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán; Điều 18 cho biết nghĩa vụ bắt đầu từ thời điểm đó và còn kéo dài một năm sau khi công ty không còn thuộc diện. Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ cũng được dẫn về Điều 14 (Điều 22 khoản 1).
Về thời điểm, khoản 4 dùng chữ "đồng thời": giải trình đi cùng lúc công bố các báo cáo tài chính nêu ở khoản 1, 2 và 3, tức báo cáo năm, bán niên và quý. Văn bản không đặt một hạn riêng cho giải trình; hạn công bố từng loại báo cáo thuộc bài về hạn công bố.
Đừng nhầm với hai loại giải trình khác trong cùng thông tư: giải trình khi báo cáo năm có ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần (Điều 10 khoản 1 điểm b), và khi kết luận soát xét bán niên hoặc quý không phải chấp nhận toàn phần (Điều 14 khoản 2 và 3). Hai loại đó gắn với ý kiến của kiểm toán viên, không gắn với ngưỡng phần trăm.
Ngưỡng 10%: so với cùng kỳ năm trước
Trường hợp thứ nhất lấy lợi nhuận sau thuế trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của kỳ báo cáo, so với báo cáo cùng kỳ năm trước. Hai chi tiết đáng chú ý. Cụm "từ 10% trở lên" gồm cả đúng 10%. Và chữ "thay đổi" không giới hạn một chiều: theo cách đọc của Tâm An, tăng hay giảm đều được tính.
Giả sử công ty X, số liệu giả định, tỷ đồng: lợi nhuận sau thuế quý 3 năm trước là 100.
| Quý 3 năm nay | Thay đổi so với 100 | Chạm ngưỡng 10% |
|---|---|---|
| 92 | giảm 8,0% | chưa |
| 91 | giảm 9,0% | chưa |
| 90 | giảm 10,0% | chạm (đúng 10%) |
| 89 | giảm 11,0% | chạm |
| 110 | tăng 10,0% | chạm |
Mẫu số của phần trăm. Văn bản không ghi công thức. Tâm An chia cho số cùng kỳ năm trước, vì cụm "so với" đặt kỳ trước làm mốc. Nếu chia cho số của kỳ này, mức tăng từ 100 lên 110 chỉ còn 9,1% và thoát ngưỡng; mức giảm xuống 90 thành 11,1%. Ví dụ này cho thấy cách chia có thể đổi kết luận "chạm hay chưa", nên khi đọc công văn cần xem doanh nghiệp tính mức thay đổi trên số nào.
Quý hay luỹ kế. Báo cáo kết quả quý thường có cả cột quý và cột luỹ kế từ đầu năm. Giả sử quý 3 giảm 8,0% (92 so với 100) nhưng luỹ kế chín tháng tăng 14,8% (310 so với 270). "Kỳ báo cáo" là cột nào thì kết luận khác; văn bản không nói rõ, bài không khẳng định.
Phần trăm không phải số tiền. Lợi nhuận sau thuế từ 4 lên 5 là tăng 25,0%, chạm ngưỡng dù chỉ chênh 1 tỷ đồng. Lợi nhuận từ 2.000 lên 2.150 chỉ tăng 7,5%, chưa chạm dù chênh 150 tỷ đồng. Nền nhỏ chạm ngưỡng dễ hơn nền lớn.
Lỗ và đổi dấu: khi phần trăm mất nghĩa
Trường hợp thứ hai không dùng phần trăm. Lợi nhuận sau thuế trong kỳ báo cáo bị lỗ là đủ để phải giải trình, kể cả khi cùng kỳ năm trước cũng lỗ; chuyển từ lãi sang lỗ hay từ lỗ sang lãi cũng thuộc diện. Ví dụ với công ty X: lãi 40 chuyển thành lỗ 5 là đổi dấu (công thức thường cho âm 112,5%, con số ít ý nghĩa); lỗ 28 thành lỗ 30 vẫn là "bị lỗ" dù công thức chỉ cho 7,1%. Khi mốc so sánh bằng 0 thì phần trăm không xác định, khi mốc âm thì dấu của phần trăm dễ gây hiểu nhầm. Văn bản không nêu quy tắc cho các tình huống này; đó là nhận xét của Tâm An, không phải hướng dẫn.
Ngưỡng 5%: trước và sau kiểm toán hoặc soát xét
Trường hợp thứ ba so hai phiên bản của cùng một kỳ: số trong báo cáo công bố trước, và số sau khi soát xét hoặc kiểm toán. Nguyên nhân hợp lý của chênh lệch này được bàn ở bài lợi nhuận trước và sau kiểm toán, còn bài về báo cáo tự lập, soát xét và kiểm toán giải thích khác biệt giữa soát xét và kiểm toán. Ở đây chỉ bàn cách ngưỡng vận hành.
Điều khoản viết "từ 5% trở lên, chuyển từ lỗ sang lãi hoặc ngược lại", ngăn bằng dấu phẩy. Tâm An đọc là hai điều kiện lựa chọn: chênh lệch từ 5% trở lên, hoặc đổi dấu; cần đối chiếu hướng dẫn nếu cần chắc chắn.
Cùng một chênh lệch, mẫu số khác nhau cho kết quả khác. Với công ty X (số giả định):
| Trước | Sau | Chênh | Chia số trước | Chia số sau |
|---|---|---|---|---|
| 480 | 455 | giảm 25 | 5,21% | 5,49% |
| 480 | 458 | giảm 22 | 4,58% | 4,80% |
| 400 | 420 | tăng 20 | 5,00% | 4,76% |
| 400 | 380 | giảm 20 | 5,00% | 5,26% |
Dòng thứ ba là trường hợp biên: chia số trước thì đúng 5% và chạm, chia số sau thì 4,76% và chưa. Cho nên khi thấy một công ty không giải trình dù chênh lệch "gần 5%", chưa nên vội kết luận gì; hãy xem công ty chia theo số nào.
Công ty mẹ: giải trình trên báo cáo nào
Khoản 5 áp dụng cho tổ chức niêm yết hoặc công ty đại chúng quy mô lớn là công ty mẹ, hoặc đồng thời là đơn vị kế toán cấp trên có đơn vị trực thuộc tổ chức bộ máy kế toán riêng. Họ phải giải trình các sự kiện ở khoản 4 "trên cơ sở" báo cáo của công ty mẹ, hoặc báo cáo tổng hợp và báo cáo hợp nhất.
Giả sử công ty X là công ty mẹ: lợi nhuận sau thuế báo cáo riêng tăng từ 50 lên 60 (tăng 20,0%), báo cáo hợp nhất tăng từ 100 lên 105 (tăng 5,0%). Cùng một doanh nghiệp, một báo cáo vượt xa ngưỡng 10%, một báo cáo thì không. Phần văn bản đã đọc không nói điều kiện kích hoạt xét trên báo cáo nào; Tâm An không kết luận, chỉ nhắc rằng khi đọc công văn nên xem giải trình dựa trên báo cáo riêng hay hợp nhất.
Ví dụ minh hoạ: công ty X giả định và công văn giải trình
Giả sử lợi nhuận sau thuế quý 3 của công ty X tăng từ 100 lên 140, tức tăng 40,0%: chạm ngưỡng 10%. Giả sử thuế suất 20% cho cả hai kỳ. Lợi nhuận trước thuế đi từ 125 lên 175, chênh 50; thuế tăng 10; lợi nhuận sau thuế tăng 40. Tính lại bằng Python, bốn khoản đứng sau chênh 50 (tỷ đồng):
| Khoản | Năm trước | Năm nay | Chênh |
|---|---|---|---|
| Lợi nhuận gộp | 240 | 300 | tăng 60 |
| Chi phí bán hàng và quản lý | 110 | 120 | tăng 10 (làm lợi nhuận giảm) |
| Chi phí tài chính | 30 | 15 | giảm 15 (làm lợi nhuận tăng) |
| Lợi nhuận khác | 25 | 10 | giảm 15 |
Cộng các tác động lên lợi nhuận: cộng 60, trừ 10, cộng 15, trừ 15, bằng 50. Một công văn đầy đủ nêu cả bốn khoản và con số. Một công văn thiếu chỉ nói "lợi nhuận gộp tăng 60 và chi phí tài chính giảm 15", tổng 75, trong khi chênh thực là 50: còn 25 chưa giải thích, vì hai khoản làm giảm lợi nhuận bị bỏ qua. Công văn thiếu chưa chắc có ý xấu, có thể chỉ viết gọn. Điều đáng ghi nhận là các khoản nêu không cộng lại thành chênh lệch.
Cũng cần hỏi khoản nào lặp lại, khoản nào chỉ một lần. Lợi nhuận khác giảm 15 có thể là khoản thanh lý năm trước không lặp lại; một khoản tăng có thể đến từ hoàn nhập dự phòng, và lợi nhuận từ hoạt động chính cho cách tách. Ví dụ này không nói công ty X tốt hay xấu.
Số liệu giả định, tính lại bằng Python.
Cách đọc trên báo cáo
- Kiểm doanh nghiệp có thuộc diện không: niêm yết cổ phiếu, hoặc đại chúng quy mô lớn.
- Tự tính mức thay đổi bằng hai cách chia, trên cả cột quý và luỹ kế.
- Xem trường hợp nào được dẫn: thay đổi từ 10%, lỗ hay đổi dấu, hay chênh lệch trước sau soát xét hoặc kiểm toán.
- Kiểm các khoản nêu có cộng đủ chênh lệch không.
- Phân loại nguyên nhân: hoạt động chính hay khoản khác; lặp lại hay một lần; có số hay chỉ lời chung.
- Với công ty mẹ, xem giải trình trên báo cáo riêng hay hợp nhất.
Sơ đồ minh hoạ khái niệm.
Áp dụng cho từng mã. Khi có báo cáo thật cùng công văn, trục phân tích theo mã của Tâm An dùng kiến thức này để mở đúng chỗ: ngưỡng nào, mức thay đổi tính trên số nào, các khoản nêu có cộng đủ không. Trục không xếp công văn thành điểm tốt hay xấu.
Lưu ý chuyển kỳ: báo cáo năm 2025 lập theo Thông tư 200, từ 01/01/2026 theo Thông tư 99/2025 với mã số chỉ tiêu đánh lại; bài không so mã số giữa hai kỳ.
Điểm cần cẩn trọng
- Bài đọc nguyên văn Điều 14 từ bản sao văn bản gốc năm 2020. Thông tư 96 đã được sửa; theo tóm tắt đã đọc, các lần sửa chạm Điều 5, 25, 33, 37 và phụ lục, chưa thấy sửa Điều 14, nhưng chưa đọc bản hợp nhất. Có dự thảo thông tư thay thế, chưa ban hành. Cần đối chiếu bản hiện hành.
- Văn bản không ghi mẫu số của phần trăm, "kỳ báo cáo" là quý hay luỹ kế, hay dòng lợi nhuận nào; các cách đọc ở trên là của Tâm An.
- Công ty X và mọi con số là giả định đơn giản hoá, không phản ánh doanh nghiệp thật.
Đừng nói quá
- Không viết "chạm ngưỡng nghĩa là lợi nhuận có vấn đề": ngưỡng chỉ kích hoạt nghĩa vụ giải trình, và lợi nhuận tăng mạnh hay giảm mạnh đều có thể có lý do kinh doanh bình thường.
- Không viết "không giải trình nghĩa là không có chuyện gì": doanh nghiệp có thể dưới ngưỡng, hoặc ngưỡng được tính theo mẫu số khác.
- Không dùng bài này để kết luận về một cổ phiếu hay xếp hạng doanh nghiệp. Bài không phải khuyến nghị đầu tư.
Tín hiệu không phải kết luận
Việc một doanh nghiệp chạm ngưỡng 10% hoặc 5% là tín hiệu để mở công văn giải trình và đọc các khoản đứng sau, chưa phải bằng chứng về điều gì cụ thể của doanh nghiệp. Ngược lại, doanh nghiệp không phải giải trình cũng chưa phải kết luận rằng lợi nhuận bền vững.
Căn cứ
Căn cứ kiểm ngày 17/10/2026.
- Thông tư 96/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020, Điều 3 khoản 1, Điều 10 khoản 1 điểm b, Điều 14, Điều 18, Điều 22 khoản 1: đọc nguyên văn từ hai bản sao toàn văn văn bản gốc (mbs.com.vn, apolatlegal.com; khớp nhau); cần đối chiếu bản hợp nhất.
- Thông tư 68/2024, 18/2025 và 08/2026/TT-BTC: tóm tắt trên hethongphapluat.com (nguồn thứ cấp); hai văn bản hợp nhất 41/VBHN-BTC và 10/VBHN-BTC chỉ biết tên, chưa đọc.
- Thông tư 99/2025/TT-BTC (kỳ áp dụng): đã đối chiếu Công báo trong tài liệu căn cứ pháp lý nội bộ của Tâm An.
- Bản tin về dự thảo thay thế Thông tư 96 (thoibaotaichinhvietnam.vn, 02/10/2026): nguồn thứ cấp.
- Số liệu ví dụ: Tâm An tự đặt, tự tính lại bằng Python, 17/10/2026.
Đọc thêm
- Chất lượng lợi nhuận là gì? (trụ cột)
- Hạn công bố báo cáo tài chính quý, bán niên và năm
- Vì sao lợi nhuận trước và sau kiểm toán có thể chênh nhau
- Lợi nhuận từ hoạt động chính khác lãi cuối cùng ở chỗ nào
- Hoàn nhập dự phòng làm lợi nhuận tăng như thế nào
- Báo cáo tài chính tự lập, soát xét và kiểm toán khác nhau thế nào
Cả chuỗi: chuyên mục Đọc báo cáo tài chính.
Theo Thông tư 96/2020/TT-BTC, Điều 14 khoản 4, tổ chức niêm yết cổ phiếu và công ty đại chúng quy mô lớn (vốn góp từ 120 tỷ đồng trở lên tại báo cáo năm kiểm toán gần nhất) phải giải trình nguyên nhân đồng thời với việc công bố báo cáo tài chính khi lợi nhuận sau thuế thay đổi từ 10% trở lên so với cùng kỳ năm trước, khi bị lỗ hoặc đổi dấu lãi, lỗ, hoặc khi chênh lệch trước và sau kiểm toán hoặc soát xét từ 5% trở lên. Văn bản không ghi cách chia phần trăm: với công ty X giả định, lợi nhuận từ 100 lên 110 là 10,0% nếu chia cho kỳ trước và 9,1% nếu chia cho kỳ này; chênh 20 trên 400 là đúng 5,00% nhưng chỉ 4,76% nếu chia cho 420; lợi nhuận riêng của công ty mẹ tăng 20,0% trong khi hợp nhất tăng 5,0%. Khi đọc công văn giải trình, hãy hỏi trường hợp nào được dẫn, chia cho số nào, các khoản nêu có cộng đủ chênh lệch không, và khoản nào lặp lại. Chạm ngưỡng là tín hiệu để đọc thêm, không phải kết luận về doanh nghiệp, và không phải khuyến nghị đầu tư.
Nội dung mang tính giáo dục, không phải tư vấn đầu tư. Tín hiệu và mô hình chỉ để sàng lọc, không phải kết luận. Căn cứ pháp lý có thể thay đổi; luôn đối chiếu văn bản hiện hành.

