Bảng đáo hạn nợ vay trong thuyết minh: cách đọc bức tường nợ đến hạn

2026· Tác giả Bùi Văn Cường
KHOÁ HỌC ĐỌC BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Đọc báo cáo tài chính — chất lượng lợi nhuận: sơ đồ minh hoạ — Tâm An School

Bài này thuộc hub Đọc báo cáo tài chính — loạt kiến thức đọc báo cáo tài chính nâng cao, không gắn mã cổ phiếu. Tín hiệu trong báo cáo chỉ để sàng lọc, không phải kết luận về một doanh nghiệp cụ thể.

Câu trả lời ngắn

Bảng đáo hạn nợ vay cho biết nợ phải trả vào lúc nào: trong 12 tháng tới, năm kế tiếp, hay xa hơn. "Bức tường" là mốc có phần nợ đến hạn dồn lại lớn nhất trong những năm gần. Đọc bảng gồm bốn việc: xem bảng đo gốc hay cả lãi, so tỷ trọng từng cột có tính bề rộng của cột, đặt từng mốc cạnh nguồn để trả, rồi hỏi khoảng trống còn lại sẽ lấp bằng gì. Điều dễ bất ngờ: cùng một tổng nợ có thể có hai lịch rất khác nhau, và công ty có nợ ngắn hạn thấp hơn lại có thể gặp bức tường lớn hơn ở năm thứ hai. Về quy định: mẫu thuyết minh của Thông tư 99 có bảng theo thời hạn cho nợ thuê tài chính, còn khoản vay chỉ có số dư; bài không khẳng định có quy định bắt mọi doanh nghiệp công bố bảng kỳ hạn cho toàn bộ nợ vay. Kết quả chỉ là tín hiệu để mở thuyết minh, chưa phải kết luận.

Công ty An và công ty Bình giả định: cùng tổng nợ vay 800 tỷ nhưng lịch đáo hạn khác nhau, công ty Bình dồn 480 tỷ vào năm thứ hai

Sơ đồ minh hoạ, số liệu giả định.

Bảng đáo hạn nợ vay nằm ở đâu

Báo cáo tình hình tài chính (tên mới của bảng cân đối kế toán từ năm tài chính 2026) chỉ chia nợ vay làm đôi. Theo hướng dẫn lập của Thông tư 99, dòng vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn phản ánh khoản có kỳ hạn thanh toán còn lại không quá 12 tháng (hoặc một chu kỳ kinh doanh thông thường), gồm cả trái phiếu phát hành; dòng dài hạn là khoản còn lại trên 12 tháng. Hai dòng chỉ cho biết 12 tháng đầu, không phải năm thứ hai hay thứ năm.

Phần chia nhỏ hơn nằm ở thuyết minh. Với mẫu thuyết minh báo cáo đầy đủ của Thông tư 99:

  • Vay và nợ thuê tài chính: số cuối năm, tăng, giảm, đầu năm của vay ngắn hạn, vay dài hạn, vay từ bên liên quan. Chỉ chia ngắn và dài, chưa có lịch.
  • Nợ thuê tài chính: có bảng theo thời hạn (từ 1 năm trở xuống, trên 1 đến 5 năm, trên 5 năm), mỗi dòng gồm tổng khoản thanh toán, tiền lãi và nợ gốc. Đây là lịch theo thời hạn duy nhất của mẫu cho nợ vay, và chỉ cho nợ thuê tài chính.
  • Vay quá hạn chưa thanh toán: gốc, lãi và lý do; chỉ phần đã quá hạn.
  • Trái phiếu phát hành: thời điểm phát hành, số lượng, lãi suất, kỳ hạn gốc theo từng nhóm. Cộng thời điểm phát hành với kỳ hạn gốc cho ra mốc đáo hạn.
  • Thuê hoạt động không huỷ ngang: tiền thuê tối thiểu trong tương lai cũng chia ba mốc, nhưng ở mục ngoài báo cáo tình hình tài chính, là nghĩa vụ ngoài bảng vay.

Hệ quả: với khoản vay thông thường, mẫu không có cột kỳ hạn. Bảng đáo hạn đầy đủ, nếu có, do doanh nghiệp tự trình bày thêm (Thông tư 99 cho phép bổ sung chỉ tiêu ngoài mẫu, kèm thuyết minh) hoặc nằm trong thuyết minh về rủi ro thanh khoản. Có báo cáo có, có báo cáo không; bài chưa xác minh quy định bắt buộc. Khi không có, người đọc tự dựng bảng thô từ hai dòng ngắn, dài hạn và mốc đáo hạn trái phiếu.

Bảng đo gốc hay đo cả lãi

Hai bảng cùng tên có thể đo hai thứ khác nhau; hãy đọc chú thích. Một cách xếp số dư gốc theo thời hạn còn lại; cách kia xếp dòng tiền hợp đồng chưa chiết khấu, gồm cả lãi sẽ trả. Mẫu nợ thuê tài chính của Thông tư 99 tách riêng lãi và gốc.

Ví dụ giả định: khoản vay 200, còn 3 năm, lãi 9% mỗi năm trả cuối năm, gốc trả một lần cuối kỳ. Xếp vào ba mốc của mẫu:

Cách đo Đến 1 năm Trên 1 đến 5 năm Trên 5 năm Cộng
Số dư gốc theo thời hạn còn lại 0 200 0 200
Dòng tiền hợp đồng chưa chiết khấu 18 236 0 254

Kiểm cộng: lãi 200 × 9% = 18 mỗi năm; năm thứ ba trả 18 + 200 = 218; mốc trên 1 đến 5 năm là 18 + 218 = 236; tổng 254 = gốc 200 + lãi 54. Cùng một khoản vay, tổng có thể là 200 hoặc 254. So cột đầu của bảng có lãi với dòng vay ngắn hạn trên báo cáo tình hình tài chính thì hai số không khớp, dù không bên nào sai.

Cùng một khoản vay 200 giả định: theo số dư gốc cột đầu bằng 0, theo dòng tiền hợp đồng chưa chiết khấu cột đầu là 18 và tổng là 254

Sơ đồ minh hoạ, số liệu giả định.

Bốn bước đọc bảng đáo hạn

Công thức của Tâm An, không phải chỉ tiêu trên mẫu: khoảng trống đến cuối năm t = nợ đáo hạn tích luỹ đến hết năm t trừ (tiền dùng được đầu kỳ cộng dòng tiền kinh doanh sau chi đầu tư duy trì, ước tính tích luỹ đến hết năm t). Hạn mức chưa rút tách riêng vì có thể kèm điều kiện.

  1. Bảng đo gì? Gốc hay cả lãi, ngày cuối của mỗi cột; tìm ở chú thích và thuyết minh vay.
  2. Cột nào dồn nhiều nhất, tính trên mỗi năm? Cột "trên 2 đến 5 năm" trải ra ba năm, nên số lớn chưa chắc là mỗi năm lớn: hãy chia số cột cho số năm của cột.
  3. Nguồn trả là gì? Tiền dùng được, dòng tiền, hạn mức chưa rút. Về tiền, xem bài tiền và tương đương tiền có phải tiền dùng được không; về sức trả nợ, bài nợ ròng bằng bao nhiêu năm dòng tiền kinh doanh. Dòng tiền một năm có thể cao nhờ thu trước hoặc giãn phải trả, nên cần xem nó có bền không (dòng tiền kinh doanh cao hơn lợi nhuận kéo dài).
  4. Khoảng trống lấp bằng gì? Gia hạn, vay mới, bán tài sản hay huy động vốn: đây là câu hỏi để hỏi tiếp, không phải kết luận.

Ví dụ minh hoạ: cùng tổng nợ 800, hai lịch đáo hạn

Đơn vị tỷ đồng, số liệu giả định, tính lại bằng Python. Công ty An và công ty Bình đều có tổng nợ vay 800 nhưng lịch khác nhau:

Mốc thời hạn còn lại Công ty An Công ty Bình
Đến 1 năm 160 (20,0%) 80 (10,0%)
Trên 1 đến 2 năm 200 (25,0%) 480 (60,0%)
Trên 2 đến 5 năm 300 (37,5%) 160 (20,0%)
Trên 5 năm 140 (17,5%) 80 (10,0%)
Cộng 800 800

Hai công ty có chung nguồn trả: tiền dùng được 120, dòng tiền kinh doanh sau chi đầu tư duy trì ước tính 100 mỗi năm, hạn mức chưa rút 80.

Hai cách nhìn nhanh cho kết luận ngược nhau. Nhìn dòng nợ ngắn hạn, công ty Bình chỉ 80 (10,0%), công ty An 160 (20,0%): Bình trông thoải mái hơn. Nhìn cột lớn nhất, của An là mốc trên 2 đến 5 năm với 300, nhưng trải ba năm thì bình quân 100 mỗi năm, thấp hơn hai năm đầu; của Bình là mốc trên 1 đến 2 năm với 480, nằm gọn trong một năm. Bức tường của Bình ở năm thứ hai, nơi dòng nợ ngắn hạn chưa nhìn tới.

Đặt cạnh nguồn trả, tích luỹ (nguồn trả tích luỹ là tiền 120 cộng 100 mỗi năm, nên 220 rồi 320):

Chỉ tiêu Cuối năm 1 Cuối năm 2
Nợ đáo hạn tích luỹ, An 160 360
Nợ đáo hạn tích luỹ, Bình 80 560
Nguồn trả trừ nợ, An +60 −40
Nguồn trả trừ nợ, Bình +140 −240

Đến cuối năm 2, công ty An thiếu 40 (11,1% nợ đáo hạn tích luỹ), công ty Bình thiếu 240 (42,9%). Cộng hạn mức 80, công ty An còn dư 40, công ty Bình vẫn thiếu 160.

Công ty An và công ty Bình giả định: nợ đáo hạn tích luỹ so với nguồn trả tích luỹ; cuối năm 2 công ty An thiếu 40 và công ty Bình thiếu 240

Số liệu giả định, tính lại bằng Python.

Bài không nói công ty Bình rủi ro hơn công ty An. Khoảng thiếu của Bình có thể được lấp bằng gia hạn, vay mới, bán tài sản hoặc tiền thu từ dự án đã bán trước; nguồn trả của An cũng có thể mỏng. Khoản vay mới thay khoản cũ xem bài tái cấp vốn là gì; câu hỏi vay ngắn hạn đang nuôi việc gì xem bài kỳ hạn nợ vay.

Đáo hạn dồn có luôn là rủi ro không

Không. Một số lý do hợp lý khiến bức tường vẫn lành (ví dụ chung của Tâm An, tuỳ hợp đồng): có nguồn thu rõ đúng lúc như bàn giao dự án đã bán; hạn mức quay vòng được gia hạn đều đặn; khoản vay nuôi vốn lưu động trả rồi vay lại. Ngược lại, lịch rải đều chưa chắc an toàn nếu nguồn trả mỏng. Ngày đáo hạn không phải ngày mất khả năng trả nợ: đó là ngày cần có nguồn tiền hoặc một thoả thuận mới.

Bảng thường không gồm hết nghĩa vụ cùng kỳ: lãi nếu bảng chỉ đo gốc, tiền thuê hoạt động, phải trả người bán, cam kết đầu tư. Theo bản sao văn bản chuẩn mực kế toán số 21 mà Tâm An đã đối chiếu, có hợp đồng cho phép bên cho vay đòi trả ngay nếu bên vay không giữ được một số điều kiện tài chính, khi đó mốc đáo hạn có thể sớm hơn lịch hợp đồng. Bài chưa kiểm hiệu lực hiện hành của chuẩn mực này; đây chỉ là câu hỏi để đọc thuyết minh.

Cách đọc trên báo cáo

  1. Phạm vi và kỳ: hợp nhất hay riêng lẻ. Báo cáo năm 2025 theo Thông tư 200, từ năm tài chính 2026 theo Thông tư 99 với mã số chỉ tiêu đánh lại, nên ghép hai kỳ theo tên dòng, không theo mã số.
  2. Báo cáo tình hình tài chính và thuyết minh vay: hai dòng ngắn, dài hạn đối chiếu với tổng số dư; tăng, giảm trong năm, vay quá hạn; mô tả từng khoản (kỳ hạn, lãi suất, tài sản bảo đảm) nếu có.
  3. Thuyết minh trái phiếu và thuê hoạt động: mốc đáo hạn trái phiếu; tiền thuê tối thiểu theo ba mốc.
  4. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thông tin bổ sung: số tiền đi vay thực thu và số tiền trả gốc vay trong kỳ, chia theo loại (khế ước thông thường, trái phiếu, hình thức khác); cho biết năm vừa qua trả nợ bằng tiền hay bằng vay mới.
  5. Thuyết minh tiền: tiền dùng được so với mốc gần nhất.

Áp dụng cho từng mã. Khi có báo cáo tài chính thật, hệ thống của Tâm An dùng kiến thức này ở trục phân tích theo mã để dựng bảng đáo hạn thô từ thuyết minh vay và trái phiếu, rồi đặt cạnh tiền và dòng tiền; chỉ là công cụ sàng lọc.

Điểm cần cẩn trọng

  • Công ty An và công ty Bình, mọi số liệu, nguồn trả và hạn mức đều là giả định; dòng tiền 100 mỗi năm chỉ là giữ phẳng, không phải dự báo.
  • Bài chỉ đọc nguyên văn mẫu của Thông tư 99; báo cáo cũ hơn theo Thông tư 200.
  • Hạn mức chưa rút có thể kèm điều kiện; nó không phải tiền.
  • Bài viết cho doanh nghiệp phi tài chính; ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán có cấu trúc báo cáo riêng.

Đừng nói quá

  • Không viết "đáo hạn dồn là xấu" hay "nợ rải đều là an toàn"; cả hai bỏ qua nguồn trả và khả năng tái cấp vốn.
  • Không coi tỷ trọng một cột hay con số 42,9% làm ngưỡng: mọi tỷ lệ là quy ước minh hoạ, không phải chuẩn pháp lý.
  • Không suy từ ví dụ ra doanh nghiệp thật. Bài không phải khuyến nghị đầu tư.

Tín hiệu không phải kết luận

Một mốc đáo hạn dồn lớn so với tiền và dòng tiền, hay bảng chỉ có hai dòng ngắn và dài mà thiếu lịch chi tiết, đều là tín hiệu để mở thuyết minh và hỏi tiếp, chưa phải bằng chứng về điều gì của doanh nghiệp. Mỗi trường hợp có nguyên nhân hợp lý khác.

Căn cứ

Căn cứ kiểm ngày 14/10/2026.

  • Thông tư 99/2025/TT-BTC (27/10/2025, hiệu lực 01/01/2026), Công báo ngày 16/11/2025, đọc từ bản PDF (mức A): hướng dẫn lập dòng vay ngắn hạn, dài hạn; mẫu thuyết minh vay, trái phiếu, thuê hoạt động, thông tin bổ sung cho báo cáo lưu chuyển tiền tệ; quyền bổ sung chỉ tiêu. Thông tư 200/2014/TT-BTC: chưa mở lại.
  • Chuẩn mực kế toán số 21 qua bản sao văn bản (mức B, chưa đối chiếu bản Công báo gốc): chỉ dùng cho câu hỏi về điều kiện tài chính trong hợp đồng vay.
  • CFA Institute, "Credit Analysis for Corporate Issuers", giáo trình 2026: chỉ trang công khai, nêu thanh khoản là một thước đo định lượng; trang không nói về kỳ hạn nợ, bài không dùng công thức nào từ nguồn này.
  • Cách dựng bảng và công thức khoảng trống là của Tâm An, không phải chuẩn hay quy định; số liệu ví dụ tự đặt, tính lại bằng Python ngày 26/10/2026.

Đọc thêm

Cả chuỗi: chuyên mục Đọc báo cáo tài chính. Bạn có thể tải file PDF đầy đủ của series, miễn phí, tại trang tamanchungkhoan.vn/bctc.

Bảng đáo hạn nợ vay cho biết nợ phải trả vào lúc nào; bức tường là mốc dồn nhiều nhất trong những năm gần. Báo cáo tình hình tài chính chỉ chia nợ vay ngắn và dài hạn (kỳ hạn còn lại không quá 12 tháng hay hơn); mẫu thuyết minh Thông tư 99 có bảng theo thời hạn chỉ cho nợ thuê tài chính, khoản vay chỉ có số dư, nên bảng đáo hạn đầy đủ nhiều khi do doanh nghiệp tự trình bày hoặc phải tự ghép; bài không khẳng định có quy định bắt buộc công bố. Bốn việc đọc: bảng đo gốc hay cả lãi (cùng khoản vay giả định 200, còn 3 năm, lãi 9%, cột đầu có thể là 0 hoặc 18, tổng 200 hoặc 254), cột nào dồn nhiều nhất tính trên mỗi năm, nguồn trả (tiền dùng được, dòng tiền, hạn mức chưa rút), khoảng trống lấp bằng gì. Công ty An và công ty Bình giả định cùng nợ 800: nợ ngắn hạn của công ty Bình chỉ 80 so với 160 của công ty An, nhưng công ty Bình dồn 480 vào năm thứ hai; với nguồn trả tích luỹ 320, cuối năm 2 công ty An thiếu 40 còn công ty Bình thiếu 240 (160 sau khi dùng hạn mức 80). Bài không nói bên nào rủi ro hơn; đáo hạn dồn chỉ là tín hiệu để mở thuyết minh, chưa phải kết luận và không phải khuyến nghị đầu tư.

Nội dung mang tính giáo dục, không phải tư vấn đầu tư. Tín hiệu và mô hình chỉ để sàng lọc, không phải kết luận. Căn cứ pháp lý có thể thay đổi; luôn đối chiếu văn bản hiện hành.

Mã QR tham gia nhóm Zalo Chứng khoán Tâm An

Cộng đồng Zalo

Tham gia nhóm Chứng khoán Tâm An

Cùng thảo luận tín hiệu, cập nhật chiến lược theo tháng và học Price Action mỗi ngày.

Góc nhìn Price Action · Trong 5 phút

Add Zalo Admin, nhắn ngay mã cổ phiếu bạn quan tâm — nhận góc nhìn Price Action trong 5 phút

Diễn biến giá thay đổi theo từng phiên, không có sẵn trong bài viết tĩnh. Add Zalo của Admin và nhắn ngay mã cổ phiếu bạn quan tâm, Admin sẽ gửi lại góc nhìn Hành động giá (Price Action) cho mã đó trong vòng 5 phút.

Bùi Văn Cường
Nhà phân tích kỹ thuật — xem thêm

Bài phân tích liên quan

Bài viết mới nhất

Khoá Đào Tạo và Dịch VụVào room Zalo cộng đồng